Thế Giới Di Sản

Di sản Việt

T1_16x9

Bảo vật quốc gia Khuôn đúc “Mũi tên đồng Cổ Loa” tại Đền thờ An Dương Vương Cổ Loa - Hà Nội

Trong những phát hiện quan trọng của khảo cổ học tại Di tích Quốc gia đặc biệt Cổ Loa, nhằm minh chứng cho tính xác thực của ngôi thành cổ này, để xây dựng hồ sơ trình UNESCO ghi danh vào Di sản văn hóa của nhân loại, đương nhiên là dày đặc những di tích và di vật, nhưng theo chúng tôi, những khuôn đúc bằng đá tìm thấy trong tầng đất Đền thờ An Dương Vương có một vị trí quan trọng đặc biệt, rất cần được quan tâm. Bộ khuôn đúc được khảo cổ học khai quật từ năm 2004 đến năm 2007, tại địa điểm tọa lạc ngôi đền thờ vị Vua khai sáng Nhà nước Âu Lạc - nơi mà theo truyền thuyết, đó là cung thất của Vua. Thế nhưng, những khuôn đúc ở đây lại đi liền và đồng thời với những lò đúc đồng đã cho chúng ta một nhận thức khác về địa điểm khảo cổ học quan trọng này.

s2_16x9

Giám định cổ vật thật - giả: Bài 2: Góp phần gìn giữ sự trung thực của lịch sử thông qua hiện vật

Giám định cổ vật thật, giả là một lĩnh vực đòi hỏi đồng thời con mắt thẩm mỹ, tư duy lịch sử, hiểu biết kỹ thuật và bằng chứng khoa học. Từ việc đọc chất liệu, kỹ thuật chế tác, phong cách nghệ thuật, cấu trúc biểu tượng đến việc sử dụng phương pháp so sánh và phân tích phòng thí nghiệm, người giám định mới có thể tiếp cận hiện vật một cách toàn diện và tránh được các kết luận cảm tính. Trong bối cảnh kỹ nghệ làm giả ngày càng tinh vi, chỉ một dấu hiệu đơn lẻ không bao giờ đủ để quyết định giá trị chân xác của cổ vật. Điều cần thiết là một thái độ cẩn trọng, liên ngành và nhất quán: nhìn hiện vật vừa như vật chứng lịch sử, vừa như cấu trúc vật liệu, vừa như sản phẩm nghệ thuật của một truyền thống văn hóa cụ thể.

Nhóm Xẩm HÀ THÀNH 16x9

[PODCAST] Hát Xẩm - Nơi người dân kể câu chuyện của mình

Nếu Nhã nhạc cung đình gắn với đời sống của triều đình, Ca trù từng là thú chơi tao nhã của tầng lớp trí thức, thì hát Xẩm lại được sinh ra từ chốn đông người như góc chợ, bến nước, sân đình. Không phải ngẫu nhiên nhiều thế hệ nghệ nhân xẩm phần lớn là những người khiếm thị, những người hát rong mưu sinh giữa cuộc đời. Chính hoàn cảnh ra đời ấy đã khiến xẩm mang một bản chất đặc biệt, đó là nghệ thuật của người bình dân, được tạo nên bởi người bình dân và dành cho người bình dân.

1787813331890_7457683309880472457_7457683309880472457_6baf5dab88dd3ea5dcdbbfa88fb71a6b_16x9

Mộc bản Phật giáo Huế: Đánh thức một “ký ức ngủ quên” của nhân loại

Trong hành trình định vị Huế như một đô thị di sản đặc thù của Việt Nam, nơi hội tụ của văn hóa, lịch sử và chiều sâu tinh thần, chúng ta đã quen nhắc đến những giá trị đã được thế giới vinh danh: Quần thể Di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình, Mộc bản triều Nguyễn, Thơ văn trên kiến trúc cung đình… Nhưng vẫn còn đó những “lớp trầm tích” di sản khác, âm thầm tồn tại, lặng lẽ gìn giữ ký ức của một vùng đất, mà nếu không kịp thời nhận diện, có thể sẽ mãi nằm trong vùng khuất của lịch sử.

(12)

Trang sức Cơ Tu – Di sản được gìn giữ qua thời gian

Trang sức không chỉ đơn thuần là vật làm đẹp mà còn phản ánh vị thế xã hội, truyền thống văn hóa và quan niệm sống của cộng đồng. Nếu phụ nữ Cơ Tu nổi bật với những chiếc kiềng bạc, chuỗi hạt cườm hay mã não rực rỡ, thì đàn ông Cơ Tu lại gây ấn tượng bởi những vòng cổ bạc và những chuỗi mã não đặc biệt gọi là c’rôn. Trải qua nhiều thế hệ, c’rôn không chỉ là vật trang sức mà còn trở thành biểu tượng của sức mạnh, uy tín và bản sắc văn hóa của người đàn ông Cơ Tu.

Bảo vật quốc gia bia vua Lê Thái Tổ ở miền biên viễn

Bảo vật quốc gia bia vua Lê Thái Tổ ở miền biên viễn

Sau khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi được quân xâm lược nhà Minh, giành lại nền độc lập, Vua Lê Thái Tổ bước vào công cuộc củng cố triều đại và ổn định quốc gia. Tuy nhiên, tại vùng biên cương xa xôi vẫn còn tồn tại những thế lực chống đối, gây ảnh hưởng đến sự thống nhất và ổn định đất nước. Trước tình hình đó, Nhà vua tiếp tục thân chinh lên vùng Tây Bắc để dẹp tan cuộc nổi dậy của thổ ty Đèo Cát Hãn. Sau khi giành thắng lợi, trên đường về Vua cho khắc chữ vào vách đá Pú Huổi Chỏ tạo thành một tấm bia ma nhai bên bờ Bắc sông Đà của vùng đất Lai Châu ngày nay (tấm bia còn được gọi là bia cổ Hoài Lai) với nội dung như sau: